CẬP NHẬT KHÁNG SINH DỰ PHÒNG VÀ CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ LẤY THAI

Cập nhật: 24/07/2018

Facebook Google +1 Twitter

Tóm tắt

Nếu không sử dụng kháng sinh dự phòng, phụ nữ mổ lấy thai sẽ có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 5 đến 20 lần so với phụ nữ sinh đường âm đạo. Kháng sinh dự phòng trong mổ lấy thai làm giảm nguy cơ viêm nội mạc tử cung, nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng đường tiết niệu, và các biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng ở người mẹ. Không ảnh hưởng đáng kể đến nhiễm trùng sơ sinh. Đối với tất cả các trường hợp mổ lấy thai, khuyến cáo nên dùng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật hơn là không dùng hoặc dùng kháng sinh sau khi kẹp dây rốn. Thuốc kháng sinh được cho khoảng 60 phút trước khi rạch da. Chúng tôi sử dụng một liều tiêm tĩnh mạch duy nhất một kháng sinh phổ hẹp, như cefazolin (2 gram cho bệnh nhân <120 kg và 3 gram cho bệnh nhân ≥120 kg). Nhiều liều là tốn kém hơn, mà không cải thiện rõ ràng kết quả trong trường hợp phẫu thuật không kéo dài hoặc không mất máu quá nhiều. Nếu mổ lấy thai được thực hiện trong khi chuyển dạ hoặc sau khi màng ối vỡ thì thêm một liều azithromycin 500 mg tiêm tĩnh mạch và làm sạch âm đạo trước khi mổ bằng dung dịch povidone-iodine trong 30 giây. Làm sạch âm đạo ở những nhóm có nguy cơ cao này làm giảm tần suất viêm nội mạc tử cung sau mổ. Dùng dung dịch chlorhexidine để sát khuẩn da vùng phẫu thuật, nhưng cũng có thể dùng dung dịch povidone-iodine.

Abstract 

In the absence of antimicrobial prophylaxis, women undergoing cesarean delivery have a 5- to 20-fold greater risk for infection compared with women who give birth vaginally. Antibiotic prophylaxis reduced the risk of endometritis. The risks of wound infection, urinary tract infection, and serious maternal infectious complications were also reduced. Maternal antibiotic prophylaxis did not significantly impact the risk of neonatal sepsis or neonatal infection with antimicrobial-resistant bacteria. For all women undergoing cesarean delivery, we recommend preoperative antibiotic prophylaxis rather than no prophylaxis or prophylaxis after cord clamping. Antibiotics are given up to 60 minutes before making the incision. We use a single intravenous dose of a narrow-spectrum antibiotic, such as cefazolin (2 grams for patients <120 kg and 3 grams for patients ≥120 kg). Multiple doses are more costly, without clearly improving outcome in the absence of prolonged surgery or excessive blood loss. If the cesarean delivery is performed intrapartum or after rupture of membranes, we add a dose of azithromycin 500 mg intravenously. We use a chlorhexidine-based antiseptic agent rather than an iodine-based antiseptic agent for skin preparation, but either approach is reasonable. For women in labor and women with ruptured membranes, we suggest vaginal cleansing before cesarean delivery rather than no vaginal cleansing. We use a povidone-iodine vaginal scrub for 30 seconds. Vaginal cleansing in these high risk populations reduces the frequency of postpartum endometritis.

Bài viết thuộc số báo: Tập 16 số 2_8-2018

  Mua ngay để đọc đầy đủ

Liên Hệ Phát Hành  08.6682 6550

Đối tác

Vui lòng đăng ký thành viên để đăng báo cáo !

Vui lòng đăng ký thành viên trước khi tham gia viết bài báo cáo và phản biện báo cáo.